Dự án quy hoạch bổ sung vùng trồng cao su tỉnh Lào Cai, giai đoạn 2010-2020



Download 0,72 Mb.
bet1/5
Sana25.06.2017
Hajmi0,72 Mb.
#15629
  1   2   3   4   5

Dự án quy hoạch bổ sung vùng trồng cao su tỉnh Lào Cai, giai đoạn 2010-2020

ĐẶT VẤN ĐỀ

Lào Cai là tỉnh miền núi phía Bắc có đư­ờng biên giới chung với tỉnh Vân Nam-Trung Quốc. Tỉnh Lào Cai có tổng diện tích tự nhiên 638.389 ha, trong đó diện tích đất lâm nghiệp 417.754 ha chiếm 65,4% diện tích tự nhiên. Tuy nhiên, giá trị kinh tế của lâm nghiệp trong thời gian qua chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế của tỉnh.

Trong giai đoạn tới chủ trương của tỉnh Lào Cai phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, có năng suất, chất lượng, hiệu quả cao, gắn với chế biến và thị trường. Triển khai tích cực và có hiệu quả Chương trình xây dựng nông thôn mới. Cây cao su được xác định là loài cây mũi nhọn góp phần thực hiện thành công chủ trương trên.

Việc phát triển cây cao su cũng có những tác động nhất định tới môi trường: Trồng cao su đúng kỹ thuật góp phần phủ xanh đất trống đồi trọc, nâng cao độ che phủ rừng, cải thiện môi trường sinh thái hạn chế rửa trôi, xói mòn suy thoái đất, hạn chế nguy cơ và thiệt hại do mưa lũ gây ra, nguồn tài nguyên đất đai sẽ được sử dụng hợp lý, đồng thời người dân có thu nhập cao sẽ hạn chế phá rừng làm nương.

Chuyển dịch cơ cấu cây trồng, sử dụng tài nguyên thiên nhiên hợp lý, góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế nông- lâm nghiệp, sử dụng đất hợp lý với từng loại cây trồng để đem lại việc làm và thu nhập cho người lao động nông thôn; từng bước xóa đói, giảm nghèo; thúc đẩy nền kinh tế - xã hội của các địa phương, trong vùng quy hoạch bổ sung trồng cây cao su phát triển bền vững; giữ vững an ninh chính trị và chủ quyền quốc gia dọc tuyến biên giới Việt Nam - Trung Quốc.

Thực hiện chủ trương trên, UBND tỉnh Lào Cai đã giao cho Sở NN & PTNT làm chủ đầu tư phối hợp với Trung tâm tư vấn và Thông tin Lâm nghiệp tiến hành điều tra, khảo sát quỹ đất trồng cao su tại một số vùng thuộc các huyện: Bát Xát, Bảo Thắng, Mường Khương, Văn Bàn và Thành phố Lào Cai.

Dự án quy hoạch bổ sung vùng trồng cao su có ý nghĩa quan trọng đối với sản xuất nông, lâm nghiệp nói riêng và phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Lào Cai nói chung. Vì vậy, để dự án phát triển cây cao su trên địa bàn tỉnh được thực hiện thuận lợi, với quy mô hợp lý và có hiệu quả cao cần lập “Dự án quy hoạch bổ sung vùng trồng cao su trên địa bàn tỉnh Lào Cai giai đoạn 2010-2020”

Nội dung dự án gồm:

Đặt vấn đề

Phần thứ nhất: Cơ sở lập dự án

Phần thứ hai: Tổng quan về cây cao su

Phần thứ ba: Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội

Phần thứ tư: Nội dung quy hoạch bổ sung trồng cây cao su

Phần thứ năm: Kết luận và kiến nghị

Phần thứ nhất: CƠ SỞ LẬP DỰ ÁN



----------------------------------

I. NHỮNG CĂN CỨ PHÁP LÝ

1. Các văn bản của nhà nước

- Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai;

- Nghị định số 23/2006/NĐ-CP ngày 03/3/2006 của Chính phủ về thi hành Luật bảo vệ và phát triển rừng;

- Quyết định số 186/2006/QĐ-TTg ngày 14/8/2006 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành Quy chế quản lý rừng;

- Quyết định số 750/QĐ-TTg ngày 03/06/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Quy hoạch phát triển cao su đến năm 2015 và tầm nhìn đến năm 2020;

- Thông tư số 58/2009/TT-BNNPTNT ngày 09/9/2009 của Bộ Nông nghiệp và PTNT hướng dẫn việc trồng cao su trên đất lâm nghiệp;

- Văn bản số 3492/NNB-BNNPTNT ngày 20/12/2007 Bộ NN và PTNT về việc phát triển cao su tại các tỉnh khu vực Tây Bắc;

- Quyết định số 2585/QĐ-BNN-KHCN ngày 17/09/2008 của Bộ Nông nghiệp và PTNT về việc công bố cây cao su là cây đa mục đích;

2. Các văn bản của địa phương

- Biên bản ghi nhớ ngày 03/07/2009 giữa UBND tỉnh Lào Cai và Tập đoàn Công nghiệp cao su Việt Nam về việc trồng thử nghiệm cao su và điều tra khảo sát đất có khả năng phát triển cao su trên địa bàn;

- Quyết định số 173/QĐ-UBND ngày 24/01/2011 của UBND tỉnh Lào Cai về phê duyệt Đề cương và dự toán kinh tế kỹ thuật Dự án quy hoạch bổ sung vùng trồng cây cao su trên địa bàn tỉnh Lào Cai, giai đoạn 2010-2020;

- Quyết định số 3926/QĐ-UBND ngày 31/12/2010 của UBND tỉnh Lào Cai, ban hành Quy định tạm thời về một số chính sách hỗ trợ phát triển cây cao su trên địa bàn tỉnh Lào Cai, giai đoạn 2010-2015;

- Quyết định số 634/QĐ-UBND ngày 18 tháng 3 năm 2010 của UBND tỉnh Lào Cai về việc phê duyệt quy hoạch vùng phát triển cao su tỉnh Lào Cai giai đoạn 2010-2020;

- Quyết định số 443/QĐ-UBND ngày 28/02/2011 của UBND tỉnh Lào Cai về việc phê duyệt cơ sở dữ liệu theo dõi diễn biến rừng và đất lâm nghiệp năm 2010, tỉnh lào Cai;

- Quyết định số 444/QĐ-UBND ngày 28/02/2011 của UBND tỉnh Lào Cai về việc chuyển đổi diện tích đất lâm nghiệp quy hoạch rừng phòng hộ sang rừng sản xuất tại xã Vạn Hòa và phường Phố Mới, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai;

- Quyết định số 1992/QĐ-UBND ngày 17/5/2011 của UBND tỉnh Lào Cai về việc chuyển đổi rừng phòng hộ sang quy hoạch rừng sản xuất tại thôn Nậm Sò, xã Bản Phiệt, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai;

II. TIẾP CẬN XÂY DỰNG DỰ ÁN


Bản đồ nền địa hình VN.2000 (Độ cao, độ dốc)



Bản đồ đất (Loại đất, tầng dầy)

Vùng thích nghi trồng cao su

Bản đồ khí hậu (Lượng mưa, nhiệt độ)

Bản đồ hiện trạng sử dụng đất (Loại đất, loại rừng)

Bản đồ dự kiến vùng QH trồng cao su

Khảo sát thực địa

III. CƠ SỞ KHOA HỌC ĐỂ PHÁT TRIỂN CAO SU TẠI LÀO CAI.

1.Về mặt khoa học



Bảng 1: ĐẶC TÍNH SINH THÁI CÂY CAO SU VỚI ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÙNG QUY HOẠCH BỔ SUNG

Yếu tố tự nhiên

Nhu cầu sinh thái

Điều kiện hiện có

  • Phân bố

Mọc tốt ở vùng thấp < 600m

Phân bố chủ yếu từ 200 ÷ 500 m

  • Khí hậu

- Nhiệt độ trung bình năm từ 25-30oC

- Lượng mưa trung bình năm trên 1.500 mm.

- Ít có bão mạnh trên cấp 8


- Nhiệt độ trung bình năm 27oC

- Lượng mưa trung bình hàng năm 1.800 mm.

- Ít có bão mạnh trên cấp 8


  • Đất đai

- Độ dốc dưới 300

- Tầng đất dày tối thiểu 0,7 m

- Độ sâu mực nước ngầm lớn hơn 1,2 m và không bị ngập úng khi có mưa.

- Thành phần cơ giới đất từ thịt nhẹ đến thịt nặng, thoát nước tốt.

- Mức độ kết von, đá lẫn trong tầng đất canh tác < 50%


- Độ dốc dưới 300

- Tầng đất dày tối thiểu 0,7 m

- Độ sâu mực nước ngầm lớn hơn 1,2 m và không bị ngập úng khi có mưa.

- Thành phần cơ giới đất từ thịt nhẹ, thịt nặng, thoát nước tốt.

- Mức độ kết von, đá lẫn trong tầng đất canh tác < 50%


Qua bảng trên cho thấy: So sánh những yêu cầu về điều kiện sinh thái của cây cao su với những điều kiện về khí hậu, đất đai của Lào Cai, có thể khẳng định về mặt khoa học là cây cao su có thể gây trồng và sinh trưởng, phát triển tốt trên địa bàn tỉnh Lào Cai.

2.Về mặt thực tiễn

- Quy hoạch bổ sung vùng trồng cây cao su trên địa bàn tỉnh Lào Cai thể hiện được sự đồng thuận rất cao từ cấp tỉnh đến cấp cơ sở; các Sở ban ngành có sự quyết tâm cao trong việc lựa chọn cây cao su là loại cây mũi nhọn góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông-lâm nghiệp, tạo bước đột phá trong phát triển nông thôn mới.

- Kết quả trồng thử nghiệm cây cao su trên địa bàn xã Trịnh Tường huyện Bát Xát và xã Bản Phiệt huyện Bảo Thắng cho thấy cây cao su đang sinh trưởng và phát triển tốt khẳng định sự phù hợp trên địa bàn tỉnh Lào Cai.

- Hiệu quả về kinh tế xã hội trong việc trồng cao su là bằng chứng thuyết phục để tuyên truyền mở rộng diện tích trồng cao su đại điền và tiểu điền trên địa bàn tỉnh Lào Cai.

Qua đánh giá kết quả trồng thử nghiệm cây cao su trên vùng quy hoạch trong thời gian qua cho thấy cây cao su hiện sinh trưởng và phát triển rất tốt và có nhiều triển vọng mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người dân địa phương. Tuy nhiên cần phải chọn giống cao su phù hợp với điều kiện khí hậu lạnh của tỉnh.

IV. TÀI LIỆU SỬ DỤNG

- Báo cáo quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Lào Cai đến năm 2020;

- Báo cáo quy hoạch vùng phát triển cao su tỉnh Lào Cai giai đoạn 2010-2020;

- Báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2010, định hướng phát triển năm 2011 tỉnh Lào Cai;

- Kết quả rà soát quy hoạch lại 3 loại rừng theo Chỉ thị số 38/2005/CT-TTg ngày 05/12/2005 của Thủ tướng Chính phủ;

- Kết quả theo dõi diễn biến rừng và đất lâm nghiệp năm 2010, tỉnh Lào Cai;

- Tài liệu và các loại bản đồ có liên quan do các ban ngành địa phương cung cấp;

- Tài liệu về địa chất, khoáng sản khí tượng thủy văn khu vực khảo sát;

- Tài liệu về điều kiện tư nhiên, kinh tế xã hội khu vực khảo sát;

- Số liệu Niên giám thống kê hàng năm tỉnh Lào Cai;

- Kết quả điều tra khảo sát thực địa về hiện trạng khu vực quy hoạch bổ sung trồng cao su (tháng 3- 4/2011) của Trung tâm Tư vấn và Thông tin Lâm nghiệp;

Phần thứ hai: TỔNG QUAN VỀ CÂY CAO SU



-------------------------------------

I. ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA CÂY CAO SU

- Cây cao su (tên khoa học: Hevea brasiliensis), là một loài cây thân gỗ thuộc về họ Thầu Dầu (Euphorbiaceae) và là thành viên có tầm quan trọng kinh tế lớn nhất trong chi Hevea. Nó có tầm quan trọng kinh tế lớn là do chất lỏng chiết ra tựa như nhựa cây của nó (gọi là nhựa mủ-latex) được thu thập lại như là nguồn chủ lực trong sản xuất cao su tự nhiên.

- Cây cao su có thể cao tới trên 30m. Nhựa mủ màu trắng hay vàng có trong các mạch nhựa mủ ở vỏ cây, chủ yếu là bên ngoài libe. Các mạch này tạo thành xoắn ốc theo thân cây theo hướng tay phải, tạo thành một góc khoảng 30 độ với mặt phẳng.

- Khi cây đạt độ tuổi 5 - 6 năm thì người ta bắt đầu thu hoạch nhựa mủ: các vết rạch vuông góc với mạch nhựa mủ, với độ sâu vừa phải sao cho có thể làm nhựa mủ chảy ra mà không gây tổn hại cho sự phát triển của cây, và nhựa mủ được thu thập trong các thùng nhỏ. Quá trình này gọi là cạo mủ cao su. Các cây già hơn cho nhiều nhựa mủ hơn, nhưng chúng sẽ ngừng sản xuất nhựa mủ khi đạt độ tuổi 26-30 năm.

- Cây cao su chỉ được thu hoạch 9 tháng, 3 tháng còn lại không được thu hoạch vì đây là thời gian cây rụng lá, nếu thu hoạch vào mùa này, cây sẽ chết.

- Thông thường cây cao su có chiều cao khoảng 20 mét, rễ ăn rất sâu để giữ vững thân cây, hấp thu chất bổ dưỡng và chống lại sự khô hạn. Cây có vỏ nhẵn màu nâu nhạt. Lá thuộc dạng lá kép, mỗi năm rụng lá một lần. Hoa thuộc loại hoa đơn, hoa đực bao quanh hoa cái nhưng thường thụ phấn chéo, vì hoa đực chín sớm hơn hoa cái. Quả cao su là quả nang có 3 mảnh vỏ ghép thành 3 buồng, mỗi nang một hạt hình bầu dục hay hình cầu, đường kính 02 cm, có hàm lượng dầu đáng kể được dùng trong kỹ nghệ pha sơn.

- Cây phát triển tốt ở vùng nhiệt đới ẩm, có nhiệt độ trung bình từ 220C đến 300C (tốt nhất ở 260C đến 280C), cần mưa nhiều (tốt nhất là 2.000 mm) nhưng không chịu được sự úng nước và gió. Cây cao su có thể chịu được nắng hạn khoảng 4 đến 5 tháng, tuy nhiên năng suất mủ sẽ giảm.

- Cây sinh trưởng bằng hạt, hạt đem ươm được cây non. Khi trồng cây được 5 tuổi có thể khai thác mủ, và sẽ kéo dài trong vài ba chục năm. Ngày nay người ta đã áp dụng các tiến bộ KHKT để tạo ra các dòng cao su ghép có chất lượng mủ cao, chịu đựng được biên độ sinh thái rộng, đặc biệt là khô hạn và nhiệt độ tối thấp.

- Việc cạo mủ rất quan trọng và ảnh hưởng tới thời gian và lượng mủ mà cây có thể cung cấp. Bình thường bắt đầu cạo mủ khi chu vi thân cây khoảng 50 cm (đường kính ngang ngực đạt 15cm). Cạo mủ từ trái sang phải, ngược với mạch mủ cao su. Độ dốc của vết cạo từ 200 - 350, vết cạo không sâu quá 1,5 cm và không được chạm vào tầng sinh gỗ làm vỏ cây không thể tái sinh. Khi cạo lần sau phải bóc thật sạch mủ đã đông lại ở vết cạo trước. Thời gian thích hợp nhất cho việc cạo mủ từ 7 đến 8 giờ sáng.

II. TÌNH HÌNH SẢN XUẤT CAO SU Ở TRONG NƯỚC VÀ THẾ GIỚI

1. Trên thế giới

- Cây cao su ban đầu chỉ mọc tại khu vực rừng mưa Amazon. Cách đây gần 10 thế kỷ, thổ dân Mainas sống ở đây đã biết lấy nhựa của cây này dùng để tẩm vào quần áo chống ẩm ướt, và tạo ra những quả bóng vui chơi trong dịp hội hè. Họ gọi chất nhựa này là Caouchouk, theo Thổ ngữ Mainas nghĩa là “Nước mắt của cây” (cao là gỗ, Uchouk là chảy ra hay khóc).

- Do nhu cầu tăng lên và sự phát minh ra công nghệ lưu hóa năm 1839 đã dẫn tới sự bùng nổ trong khu vực này, làm giàu cho các thành phố Manaus (bang Amazonas) và Belém (bang Pará), thuộc Brasil.

- Năm 1898, một đồn điền trồng cao su đã được thành lập tại Malaysia, và ngày nay phần lớn các khu vực trồng cao su nằm tại Đông Nam Á và một số tại khu vực châu Phi nhiệt đới.

- Ở Trung Quốc có toàn bộ diện tích cao su 776.000 ha, nằm trong vùng ngoài truyền thống, riêng tỉnh Vân Nam đã bắt đầu trồng cao su từ đầu thập niên 1950 hiện có trên 300.000 ha, trong đó có những vùng cao su giáp giới với Việt Nam thuộc hai tỉnh Lai Châu và Lào Cai. Tại Myanma diện tích cao su đã trồng được gần 400,000 ha. Tại Lào đã trồng được 140.626 ha tập trung chủ yếu vùng Bắc Lào, giáp Tây Bắc Việt Nam. Như vậy cao su vùng núi phía Bắc được bao bọc bởi các vùng cao su đã và đang được phát triển, là kinh nghiệm tốt cho phát triển cao su vùng núi phía Bắc của Việt Nam. Sự phát triển cây cao su tại các vùng lân cận khẳng định sự phù hợp của cây cao su về mặt sinh thái trên địa bàn tỉnh Lào Cai.

2. Ở Việt Nam

- Năm 1897 đã đánh dấu sự hiện diện của cây cao su ở Việt Nam. Công ty cao su đầu tiên được thành lập là Suzannah (Dầu Giây, Long Khánh, Đồng Nai) năm 1907. Tiếp sau, hàng loạt đồn điền và công ty cao su ra đời, chủ yếu là của người Pháp và tập trung ở Đông Nam Bộ: SIPH, SPTR, CEXO, Michelin … Một số đồn điền cao su tư nhân Việt Nam cũng được thành lập.

- Đến năm 1920, miền Đông Nam Bộ có khoảng 7.000 ha và sản lượng 3.000 tấn.

- Cây cao su được trồng thử ở Tây Nguyên năm 1923 và phát triển mạnh trong giai đoạn 1960 - 1962, trên những vùng đất có độ cao 400 - 600 m so với mực nước biển, sau đã ngưng vì chiến tranh.

- Trong thời kỳ trước 1975, để có nguồn nguyên liệu cho nền công nghiệp miền Bắc, cây cao su đã được trồng vượt trên vĩ tuyến 170 Bắc (Quảng Trị, Quảng Bình, Nghệ An, Thanh Hóa, Phú Thọ). Trong những năm 1958 - 1963 bằng nguồn giống từ Trung Quốc, diện tích đã lên đến khoảng 6.000 ha.

- Sau 1975, cây cao su được tiếp tục phát triển chủ yếu ở Đông Nam Bộ. Từ 1977, Tây Nguyên bắt đầu lại chương trình trồng mới cao su, thoạt tiên do các nông trường quân đội, sau 1985 do các nông trường quốc doanh, từ 1992 đến nay tư nhân đã tham gia trồng cao su. Ở miền Trung sau 1984, cây cao su được phát triển ở Quảng trị, Quảng Bình trong các công ty quốc doanh.



* Việc phát triển cao su tại các tỉnh phía Bắc

- Trong giai đoạn từ năm 1958 đến năm 1962 đã phát triển cao su thành công ở Thanh Sơn – Phú Thọ;

- Từ năm 1994, Viện Nghiên Cứu Cao Su (phối hợp với Trung tâm Cây Ăn Quả Phú Hộ, nay là Viện Khoa học Nông Lâm Nghiệp Miền Núi) đã đưa vào khảo nghiệm một số giống cao su tại Phú Hộ, Phú Thọ; tại Phong Thổ - Lai Châu hiện tồn tại vài chục cây cao su xuất xứ từ Trung Quốc được trồng từ 1993.

III. QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CAO SU TẠI CÁC TỈNH VÙNG NÚI PHÍA BẮC

- Năm 1993 trong chương trình phủ xanh đất trống đồi trọc, dự án hợp tác trồng rừng Việt Nam – Thụy Điển đã đưa cây cao su vào trồng tại một số tỉnh trong vùng như huyện Phong Thổ tỉnh Lai Châu, huyện Bát Xát – Lào Cai, đến nay các cây còn lại ở hai điểm trên đang sinh trưởng và phát triển tốt.

- Từ năm 1996, Tổng công ty Cao su Việt Nam (nay là Tập Đoàn Công Nghiệp Cao su VN) đã tiến hành xây dựng vườn thử nghiệm một số giống cao su có thể trồng ở các tỉnh phía Bắc (tỉnh Phú Thọ), đến nay đã có một số giống được khai thác. Tuy nhiên vẫn chưa có đủ thời gian để nghiên cứu một cách đầy đủ về khả năng sinh trưởng, phát triển cũng như cho sản phẩm mủ của cây cao su.

- Năm 2005-2008 tại một số tỉnh trong vùng đã triển khai trồng cao su với nguồn giống nhập từ Vân Nam -Trung Quốc; giống của Tập Đoàn Công Nghiệp Cao Su VN. Việc trồng cao su trong thời gian gần đây chủ yếu là tự phát chưa có quy hoạch.

Qua thực tế rét đậm, rét hại lịch sử ở miền Bắc đầu năm 2008 vừa qua đã có thêm cơ sở thực tiễn bước đầu để lựa chọn những giống cao su phù hợp với biên độ sinh thái ở một số tiểu vùng của các tỉnh Tây Bắc.

IV. NHỮNG TIẾN BỘ TRONG SẢN XUẤT CỦA CÂY CAO SU VÀ GIÁ TRỊ KINH TẾ CỦA MỦ VÀ GỖ

1. Tiến bộ kỹ thuật

- Theo thống kê năm 1976, tổng diện tích cao su mới chỉ có 76.600 ha (riêng các tỉnh phía Bắc có khoảng 5.000 ha), với sản lượng 40.200 tấn. Năm 2005, cả nước đã có 480.000 ha, và đạt sản lượng 468.600 tấn mủ. Riêng khối quốc doanh có khoảng 287.800 ha (chiếm 72,7%) và 380.500 tấn (81,2%) với năng suất khá cao, do áp dụng các tiến bộ kỹ thuật và giống cao sản.

- Về giống Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam đã có một số sơ sở cho việc đề xuất cơ cấu giống cho vùng núi phía Bắc, đó là:



+ Trong nước: Các cơ sở dữ liệu vườn giống Phú Thọ đã ghi nhận được một số giống sinh trưởng, chống chịu lạnh và cho năng suất mủ tốt có thể bước đầu làm cơ sở cho việc xây dựng cơ cấu bộ giống cho khu vực miền Bắc như các giống GT1, PB260, IAN 873, RRIM600, RRIM 712;

Từ kết quả điều tra thực tế qua đợt rét kéo dài đầu năm 2008 tại các tỉnh phía Bắc và mạng lưới khảo sát giống tại các tỉnh phía Bắc xác định được một số giống triển vọng năng suất cao có khả năng sinh trưởng tốt, chống chịu rét và phục hồi sau rét nhanh là cơ sở cho khuyến cáo trong những năm trước mắt.



+ Ngoài nước: Giống Trung Quốc tại vùng Vân Nam, giáp với Lai Châu và có điều kiện sinh thái vùng tương tự như ở Lai Châu và Sơn La cho thấy các giống Trung Quốc YITC 77-2 (Yunyan 77-2) và YITC 77-4 (Yunyan 77-4) là các giống đang được khuyến cáo trồng, có khả năng chống chịu lạnh và cho năng suất khá, các giống này cũng đã được trồng ở Bắc Lào là cơ sở cho việc xem xét nhập nội.

2. Giá trị kinh tế của mủ và gỗ cây cao su

- Theo các chuyên gia ở Tập đoàn cao su Việt Nam, vào năm 2010, diện tích cao su có thể đạt mức 700.000 ha; trong đó diện tích khai thác từ 420.000 đến 450.000 ha và cho sản lượng trên 600.000 tấn; kim ngạch xuất khẩu vẫn giữ được ở mức trên 1 tỷ USD. Đến năm 2015, diện tích khai thác đạt 520.000 đến 530.000 ha, và sản lượng ước đạt 750.000 - 800.000 tấn, đạt kim ngạch xuất khẩu 1,5 - 1,6 tỷ USD. vị thế của ngành cao su Việt Nam trên thế giới ngày càng được khẳng định. Trước năm 2005, Việt Nam là nước sản xuất cao su thiên nhiên đứng thứ 6 trên thế giới (sau các nước Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Ấn Độ, và Trung Quốc).

- Năm 2005, nhờ sản lượng tăng nhanh hơn Trung Quốc, Việt Nam đã vươn lên hàng thứ 5. Riêng về xuất khẩu, từ nhiều năm qua Việt Nam đứng hàng thứ 4, với sản lượng tăng dần qua các năm, từ 273.400 tấn (năm 2000), lên 308.100 tấn (2001), 454.800 tấn (2002), 433.106 tấn (2003), 513.252 tấn (2004), 587.110 tấn (2005) và 690.000 tấn (năm 2006).

- Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu cao su của Việt Nam trong giai đoạn 2001-2006 bình quân đạt 17,66%/năm, là cao nhất vùng Đông Nam Á trong khi đó Thái Lan (2,37%), Indonesia (5,27%), Malaysia (3,52%). Năm 2005, tổng kim ngạch xuất khẩu cao su đạt 804 triệu USD (xếp thứ 2 trong số các mặt hàng nông sản xuất khẩu sau gạo); năm 2006 đã đạt 1,27 tỷ USD.

- Theo tính toán, năm 2006, bình quân mỗi ha cao su đã đạt mức tổng thu khoảng 46 triệu đồng (đối với khối quốc doanh), và khoảng 27 triệu đồng (đối với cao su tiểu điền), trung bình của Tổng công ty cao su Việt Nam đạt mức bình quân hơn 50 triệu đồng/ha.

- Ngoài hiệu quả kinh tế như đã được ghi nhận, cây cao su còn góp phần giải quyết việc làm cho khoảng 110.000 lao động khối quốc doanh và trên 77.000 hộ nông dân tiểu điền. Những năm gần đây, do thị trường và giá cả thuận lợi, năng suất lại gia tăng nên thu nhập của người trồng cao su có nhiều cải thiện đáng kể; nhiều địa phương đã sử dụng cây cao su như một giải pháp xóa đói giảm nghèo.

- Thực tế, tại các vùng trồng cây cao su, hệ thống giao thông vận chuyển được đầu tư mới và nâng cấp nhiều, góp phần thay đổi bộ mặt kinh tế xã hội nông thôn, nhất là ở các vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới mới phát triển cây cao su trong những năm gần đây.

- Với diện tích năm 2006 khoảng 500.000 ha, cây cao su cũng còn được các chuyên gia đánh giá là đã góp phần đáng kể vào việc che phủ và chống xói mòn đất, nhất là tại các vùng đồi núi khu vực Tây Nguyên và duyên hải miền Trung.

- Nghiên cứu và dự báo của nhiều tổ chức quốc tế đều cho rằng nhu cầu cao su thiên nhiên sẽ còn gia tăng liên tục cho đến năm 2035. Các nước như Thái Lan, Indonesia cũng đã có các chương trình khuyến khích phát triển cây cao su. Malaysia còn đưa phát triển cao su vào các dự án trồng rừng. Trung Quốc cũng đang khuyến khích các nhà đầu tư của mình vào trồng cao su tại các nước Philippines, Lào, Campuchia...

- Hiện nay có 500.000 ha rừng cao su khai thác nhựa, chu kỳ khai thác nhựa 25 năm. Như vậy mỗi năm có khoảng 20.000 ha cao su thanh lý sau khai thác nhựa . Những diện tích này đưa vào khai thác cho sản lượng bình quân 50m3 gỗ cao su/ha, hàng năm cung cấp ra thị trường khoảng 1 triệu m3 gỗ để làm hàng mộc xuất khẩu.

- Các chuyên gia cũng cho biết, trong tổng kim ngạch xuất khẩu của ngành cao su, có cả phần xuất khẩu đồ gỗ cao su vào khoảng 190 triệu USD, tức chiếm khoảng 10% trong năm 2006. Triển vọng xuất khẩu đồ gỗ từ cây cao su trong tương lai sẽ còn gia tăng, ước đạt 400-500 triệu USD/năm là hoàn toàn khả thi. Ngoài ra, với việc cải thiện các quy trình công nghệ chế biến sản phẩm mủ cao su ngày càng hiện đại hơn, chắc chắn giá trị gia tăng của các ngành hàng cao su sẽ còn cao hơn.


Phần thứ ba: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI

-------------------------------------------

I. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN

1. Vị trí địa lý

Lào Cai là tỉnh vùng cao biên giới phía Bắc, nằm chính giữa vùng Đông Bắc và vùng Tây Bắc của Việt Nam, cách Hà Nội 296 km theo đường sắt và 345 km theo đường bộ. Có tổng diện tích tự nhiên 638.389 ha, bao gồm 8 huyện và thành phố.



Tọa độ địa lý

  • Từ 22009’ đến 22052’ Vĩ độ bắc,

  • Từ 103031’ đến 104028 Kinh độ đông.

Ranh giới hành chính

- Phía Bắc giáp tỉnh Vân Nam - Trung Quốc;

- Phía Đông giáp tỉnh Hà Giang;

- Phía Nam giáp tỉnh Yên Bái;

- Phía Tây giáp tỉnh Lai Châu.

2. Địa hình, địa thế

Nằm trong vùng có độ cao cao nhất khu vực Đông Dương, do đó địa hình chia cắt phức tạp, phân tầng độ cao lớn, mức độ chia cắt mạnh, có hai dãy núi chính, dãy Hoàng Liên Sơn ở phía tây, dãy Con Voi ở phía đông, hai dãy cùng có hướng Tây Bắc - Đông Nam. Với việc kiến tạo địa hình như vậy đã tạo ra các vùng đất thấp và trung bình, kiểu dạng địa hình phía Tây thoải dần theo hướng Tây Bắc - Đông Nam và phần phía Đông thoải dần theo hướng Đông Bắc - Tây Nam, ngoài ra còn tạo nên các vùng núi thấp phân bố đa dạng, chia cắt tạo ra những tiểu vùng khí hậu khác nhau.

Với đặc trưng như vậy địa hình Lào Cai có ba kiểu vùng chính như sau:

- Địa hình núi cao có độ cao trên 1.500 m tập trung ở các huyện Văn Bàn, Sa Pa, Bát Xát thuộc dãy Hoàng Liên Sơn; phần còn lại phân bố ở huyện Bắc Hà, điểm cao nhất là đỉnh Phan Xi Păng có độ cao 3.143 m, vùng này có độ dốc trung bình khá lớn từ 20 - 25o, đặc biệt độ dốc trên 35o chiếm trên 31% diện tích của vùng. Các đỉnh núi cao hiểm trở được chia cắt bởi các dông núi nên vào mùa mưa thường tạo thành các dòng suối lớn chảy xiết dễ gây ra lũ quét.

- Địa hình núi trung bình có độ cao từ 700 - 1.500 m; phân bố chủ yếu ở các huyện thuộc dãy Hoàng Liên Sơn như Văn Bàn, Sa Pa, Bát Xát và khu vực cao nguyên Bắc Hà. Đây là vùng có địa hình tương đối phức tạp, độ dốc trung bình từ 15-25o, do vậy nhu cầu phòng hộ cũng rất cao.

- Địa hình đồi và núi thấp tập trung gần khu trung tâm có độ cao dưới 700 m, đây là dải đất dọc ven sông Hồng và sông Chảy thuộc các huyện thành phố Lào Cai, Bảo Thắng, Bảo Yên...(điểm thấp nhất: 80m thuộc huyện Bảo Thắng), đây là khu vực có địa hình ít hiểm trở hơn, nhiều vùng đất đồi thoải. Các núi này bị chia cắt bởi các khe tạo thành suối cạn ít gây ra lũ vào mùa mưa.

3. Địa chất thổ nhưỡng

Lào Cai có 10 nhóm đất chính, được chia làm 30 loại đất khác nhau; 10 nhóm đất (đất phù sa, đất lầy, đất đen, đất đỏ vàng, đất mùn vàng đỏ, đất mùn alit trên núi, đất mùn thô trên núi, đất đỏ vàng bị biến đổi do trồng lúa, đất xói mòn mạnh trơ sỏi đá và đất dốc tụ) trong đó một số nhóm đất đang được sử dụng cho sản xuất một cách thiết thực:

- Nhóm đất phù sa: diện tích nhỏ, chiếm 1,47% diện tích tự nhiên, phân bố chủ yếu dọc sông Hồng và sông Chảy, có độ phì tự nhiên khá cao, thích hợp đối với các loại cây lương thực, cây công nghiệp.

- Nhóm đất đỏ vàng: thường có màu nâu đỏ, đỏ nâu, đỏ vàng hoặc vàng đỏ rực rỡ. Hình thành và phân bố rộng khắp trên địa bàn toàn tỉnh ở độ cao 900m trở xuống, diện tích chiếm trên 40% diện tích tự nhiên. Nhóm đất này có độ phì nhiêu khá cao, thích hợp với cây công nghiệp dài ngày, cây hàng năm.

- Nhóm đất mùn vàng đỏ: chiếm trên 30% diện tích tự nhiên, phân bố tập trung tại các huyện Sa Pa, Mường Khương, Bắc Hà, Bát Xát, Văn Bàn. Nhóm đất này thích hợp trồng các loại cây dược liệu quý, cây ăn quả và nhiều loại rau ôn đới quan trọng của tỉnh. Đồng thời, nhóm đất này có thảm thực vật rừng phong phú, đa dạng bậc nhất của tỉnh.

- Nhóm đất mùn alit trên núi: chiếm 11,42% diện tích tự nhiên, tập trung ở huyện Sa Pa, Văn Bàn... có thảm rừng đầu nguồn khá tốt, thích hợp với một số loại cây trúc cần câu, đỗ quyên, trúc lùn, rừng hỗn giao.

- Nhóm đất đỏ vàng bị biến đổi màu do trồng lúa: đây là các loại đất feralitic hoặc mùn feralitic ở các sườn và chân sườn ít dốc được con người bỏ nhiều công sức tạo thành các ruộng bậc thang để trồng trọt hoa màu. Diện tích chiếm khoảng 2% diện tích tự nhiên phân bố rải rác ở các huyện tạo nên những cảnh quan ruộng bậc thang rất đẹp mà tiêu biểu là hai huyện Bắc Hà và Sa Pa.

4. Khí hậu, thủy văn

4.1.Khí hậu

+ Lào Cai có vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình năm từ 250C - 300C.

+ Chế độ mưa: Lào Cai có hai mùa rõ rệt, mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 10, mùa khô bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau; đây là vùng có lượng mưa khá lớn so với toàn quốc, trung bình: 2.000 mm/năm; dòng chảy mặt khoảng 9,5 tỷ m3. Đặc biệt, ở khu vực sườn phía đông của dãy Hoàng Liên Sơn, vùng phía Đông Nam huyện Si Ma Cai, huyện Bảo Yên và phía Đông Bắc huyện Bắc Hà là vùng có lượng mưa trung bình rất lớn, trên 2.500 mm/năm; số ngày có mưa tập trung vào tháng 7, 8, 9 với cường độ lớn đã dẫn đến hiện tượng lũ ống, lũ quét, sạt lở đất.

Vùng có lượng mưa thấp thuộc các huyện Mường Khương, Bảo Thắng, thành phố Lào Cai và một phần huyện Bắc Hà, Si Ma Cai lượng mưa trung bình năm khoảng 1.700 mm.

Ngoài ra, sương mù thường xuất hiện phổ biến, có nơi ở mức độ rất dày, nhất là khu vực vùng núi cao, thung lũng.

4.2. Thủy văn

- Lào Cai là tỉnh nằm trong vùng đầu nguồn của lưu vực hai con sông lớn:

+ Sông Hồng có lưu vực bao gồm các huyện phía Tây của tỉnh như: Bát Xát, Sa Pa, Văn Bàn; Bảo Thắng, thành phố Lào Cai và một phần diện tích phía Tây huyện Mường Khương, Bảo Yên. Đây là con sông có 130 km chiều dài chảy qua tỉnh, lòng sông rộng, sâu, độ dốc lớn, dòng chảy xiết, mạnh. Lưu lượng nước sông không điều hòa, mùa mưa lớn (khoảng 4.830m3/s), mực nước cao (độ cao tuyệt đối 86,85m); mùa khô, lưu lượng nhỏ (chỉ khoảng 70m3/s), mực nước thấp (khoảng 74,25m).

+ Sông Chảy có lưu vực gồm các huyện Si Ma Cai, Bắc Hà và một phần diện tích phía Đông huyện Mường Khương, Bảo Yên; chiều dài đoạn chảy qua tỉnh là 124 km; lòng sông sâu, hẹp, dốc, nhiều thác ghềnh; lưu lượng nước mùa lũ đạt 1.670m3/s, mùa khô đạt 17,6m3/s.

- Trên lưu vực hai dòng sông chính, còn có hệ thống sông suối dày đặc với hàng nghìn sông, suối lớn nhỏ (trong đó có 107 sông, suối dài từ 10 km trở lên) và được phân bố khá đều trên địa bàn.

- Theo số liệu điều tra, nguồn nước ước tính có trữ lượng xấp xỉ 30 triệu m3, trữ lượng động khoảng 4.448 triệu m3 với chất lượng tốt, trên địa bàn tỉnh còn có nguồn nước khoáng, nước nóng và nguồn nước siêu nhạt ở các địa phương.

5. Hiện trạng đất đai, tài nguyên rừng

5.1. Hiện trạng sử dụng đất đai

Theo số liệu thống kê đất đai năm 2010 của Sở Tài nguyên & Môi trường tỉnh Lào Cai và nguồn số liệu theo dõi diễn biến rừng và đất lâm nghiệp, hiện trạng đất đai tài nguyên rừng trên địa bàn tỉnh Lào Cai như sau:



Download 0,72 Mb.

Do'stlaringiz bilan baham:
  1   2   3   4   5




Ma'lumotlar bazasi mualliflik huquqi bilan himoyalangan ©hozir.org 2024
ma'muriyatiga murojaat qiling

kiriting | ro'yxatdan o'tish
    Bosh sahifa
юртда тантана
Боғда битган
Бугун юртда
Эшитганлар жилманглар
Эшитмадим деманглар
битган бодомлар
Yangiariq tumani
qitish marakazi
Raqamli texnologiyalar
ilishida muhokamadan
tasdiqqa tavsiya
tavsiya etilgan
iqtisodiyot kafedrasi
steiermarkischen landesregierung
asarlaringizni yuboring
o'zingizning asarlaringizni
Iltimos faqat
faqat o'zingizning
steierm rkischen
landesregierung fachabteilung
rkischen landesregierung
hamshira loyihasi
loyihasi mavsum
faolyatining oqibatlari
asosiy adabiyotlar
fakulteti ahborot
ahborot havfsizligi
havfsizligi kafedrasi
fanidan bo’yicha
fakulteti iqtisodiyot
boshqaruv fakulteti
chiqarishda boshqaruv
ishlab chiqarishda
iqtisodiyot fakultet
multiservis tarmoqlari
fanidan asosiy
Uzbek fanidan
mavzulari potok
asosidagi multiservis
'aliyyil a'ziym
billahil 'aliyyil
illaa billahil
quvvata illaa
falah' deganida
Kompyuter savodxonligi
bo’yicha mustaqil
'alal falah'
Hayya 'alal
'alas soloh
Hayya 'alas
mavsum boyicha


yuklab olish